# Kinh Jīvaka (Jīvaka Sutta) & Chú Giải

**Kinh số 55 — Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)**

> Bản dịch Việt ngữ: Hòa thượng Thích Minh Châu  
> Chú giải: Jīvakasuttavaṇṇanā — dịch từ bản Thái-Việt

---

## Như vầy tôi nghe

Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jīvaka Komārabhacca.

Rồi Jīvaka Komārabhacca đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, con nghe nói như sau: "Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình". Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình", bạch Thế Tôn, những người ấy có nói chính lời Thế Tôn, họ không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, họ trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai như pháp, thuyết đúng pháp, thuận pháp không có thể quở trách?

— Này Jīvaka, những ai nói như sau: "Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình được làm cho mình", những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng.

Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn nào, vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng từ, và an trú; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai và này Jīvaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, Tỷ-kheo ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia hay con người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Vị Tỷ-kheo ấy không nghĩ: "Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món khất thực thượng vị như vậy". Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy, với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jīvaka, Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến tự hại, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

— Này Jīvaka, Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm?

— Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Cao thượng thay, an trú lòng từ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng từ".

— Này Jīvaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lai đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jīvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông.

— Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.

— Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng nào hay một thị trấn nào. Vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng bi… với tâm có lòng hỷ… với tâm có lòng xả và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy, biến mãn với tâm có lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai. Và này Jīvaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia, hay con của người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Tỷ-kheo ấy không nghĩ: "Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng vị cư sĩ này, hay con vị cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị như vậy". Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jīvaka, Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến hại mình, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

— Này Jīvaka, vị Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy, có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm?

— Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Cao thượng thay, an trú lòng xả! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng xả".

— Này Jīvaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lai đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jīvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông.

— Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.

— Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: "Hãy đi và dắt con thú này đến", đó là nguyên nhân thứ nhất, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy, khi bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói: "Hãy đi và giết con thú này", đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này.

Khi nghe nói vậy, Jīvaka Komārabhacca bạch Thế Tôn:

— Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn một cách hợp pháp. Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

---

## Chú giải Kinh Jīvaka (Jīvakasuttavaṇṇanā)

### 51. Mở đầu

**evaṃ me sutaṃ** — Kinh Jīvaka được bắt đầu như sau: "Tôi đã được nghe như vầy."

**jīvakassa komārabhaccassa ambavane** (tại rừng xoài của Jīvaka Komārabhacca): được gọi là Jīvaka bởi vẫn còn mạng sống. Gọi là Komārabhacca bởi được Vương tử nhận nuôi dưỡng, như đã được nói – "Này hiền khanh, vật gì bị bầy quạ bu quanh vậy? Thưa ngài, đứa bé trai. Này các khanh, đứa bé còn sống không? Thưa ngài, vẫn còn sống. Này các khanh, như thế thì hãy mang đứa bé trai ấy về hậu cung của chúng ta và giao cho các nhũ mẫu chăm sóc." Mọi người đặt tên cho đứa bé ấy là "Jīvaka" (người đang sống) bởi vì "vẫn còn sống", và bởi vì "được nuôi dưỡng bởi vị vương tử" nên đã được đặt tên là "Komārabhacca."

Vào lúc bấy giờ cơ thể của đức Thế Tôn bị tiết ra dịch chất dơ, và lương y Jīvaka Komārabhacca này đã cúng dường thuốc xổ nhẹ, (vị ấy) đã cúng dường xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sīvī, vào lúc kết thúc câu chuyện đã nói lên lời tùy hỷ, Jīvaka đã vững trú vào Thánh Quả Tu-đà-hoàn rồi khởi lên suy nghĩ – "Ta cần phải đi đến chăm sóc đức Phật mỗi ngày 2-3 lần nhưng tịnh xá Veluvana này ở quá xa, còn vườn xoài của ta thì vẫn gần hơn, vậy thì ta sẽ kiến tạo tịnh xá để cúng dường đến đức Thế Tôn ở trong vườn xoài của ta." Như thế vị ấy đã cho kiến tạo thạch động, liêu cốc và mái che để làm chỗ nghỉ vào ban đêm và chỗ nghỉ ban ngày, xây dựng Gandhakuṭi phù hợp cho đức Thế Tôn trong vườn xoài ấy, xây tường màu lá đỏ cao 18 hắc tay bao quanh vườn xoài, cúng dường đến chư Tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với y phục và vật thực, rồi đã rải nước cúng dường và đã dâng tịnh xá. Ngài muốn đề cập đến vườn xoài đó nên mới nói rằng – "vườn xoài của Jīvaka Komārabhacca".

**ārabhanti**: sát hại. **uddissakataṃ** (được xác định cụ thể): được làm cụ thể. **paṭiccakammaṃ** (hành động vì mình): được làm cụ thể cho mình. Hơn nữa, 'hành động vì mình' là tên gọi của 'nimittakamma (hành động ra hiệu)'. Nghiệp nương vào chính mình làm nhân để thực hiện có mặt trong miếng thịt đó, vì nguyên nhân ấy Ngài mới giải thích rằng 'nghiệp tồn tại do nương vào miếng thịt'.

### 52. Ba trường hợp thanh tịnh

**Ṭhānehi** đồng nghĩa với **kāraṇehi** (bởi các nguyên nhân). Trong số cả 3 phần có việc đã nhìn thấy v.v:

- **Diṭṭha** (thấy): nhìn thấy họ giết các loài thú và cá rồi mang đến (làm món ăn) cúng dường đến chư Tỳ khưu.
- **Suta** (nghe): Tỳ khưu nghe rằng họ giết thịt và cá mang đến cúng dường chư Tăng.
- **Parisaṅkita** (nghi ngờ): có 3 loại — nghi ngờ về việc đã nhìn thấy, nghi ngờ về việc đã được nghe, nghi ngờ nằm ngoài cả 2.

**Chi tiết về sự nghi ngờ:**

Chư Tỳ khưu nhìn thấy mọi người vác lưới chài và bẫy mồi đi ra khỏi làng hoặc đi quanh trong rừng. Vào ngày kế đó khi các vị Tỳ khưu đi khất thực đến ngôi làng đó, những người đó mang bình bát vật thực có thịt và cá cúng dường, chư Tỳ khưu ấy nghi ngờ về việc đã thấy — đây gọi là **diṭṭhaparisaṅkita**. Thọ nhận vật thực mà hoài nghi về việc đã thấy không thích hợp. Nếu những người đó giải thích rằng vật thực không làm vì chư Tỳ khưu thì hợp lẽ.

Tương tự cho trường hợp **sutaparisaṅkita** (nghi ngờ về điều đã nghe) và **tadubhayavimuttaparisaṅkita** (nghi ngờ nằm ngoài cả hai).

**Về vật thực cầu siêu, cầu an:** Vật thực mà họ làm vì lợi ích cầu siêu cho người đã quá vãng hoặc để cầu an có phương thức tương tự nhau. Bất kỳ loại vật thực nào họ không làm vì lợi ích cho chư Tỳ khưu và chư Tỳ khưu không hoài nghi về vật thực đó thì tất cả đều hợp lễ.

**Nếu một vị Tỳ khưu biết thịt được làm vì mình, vị ấy cúng dường lại cho vị khác:** Cả hai đều không phạm tội — vị thứ nhất không phạm do không thọ dụng, vị thứ hai không phạm do không biết.

**Về thịt cấm (akappiyamaṃsa):** Mười loại thịt mà đức Thế Tôn không cho phép chư Tỳ khưu thọ dụng: thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó nhà, thịt chó rừng, thịt rắn, thịt sư tử, thịt cọp vằn, thịt báo đốm, thịt gấu. Vị Tỳ khưu không biết mà thọ dụng thịt cấm cũng phạm tội, nên cần hỏi trước khi thọ nhận.

**Ba trường hợp thịt được phép (Tam tịnh nhục):** Không thấy (adiṭṭha), không nghe (asuta), không nghi ngờ (aparisaṅkita) — loại thịt thanh tịnh với 3 nguyên nhân này gọi là sự thanh tịnh với cả 3 phần. Việc thọ dụng loại thịt này cũng giống như việc ăn cơm và dưa chua tự phát sanh ở trong rừng, vị Tỳ khưu sống với tâm từ thọ dụng loại thịt như thế không có lỗi lầm.

### 53. An trú tâm từ khi thọ thực

Đức Thế Tôn thuyết giảng tính chất vị Tỳ khưu sống với từ tâm không có lỗi lầm trong việc thọ dụng loại thịt như vậy. Trong lời đó, đức Thế Tôn không xác định rõ rồi nói 'vị Tỳ khưu', nhưng nên biết rằng thuyết như vậy muốn đề cập đến chính Ngài. Thật vậy, đức Thế Tôn muốn đề cập đến chính Ngài có liên quan 3 vị trí (bài Kinh) là Kinh Mahāvacchagotta, Kinh Caṅkī và trong bài Kinh này.

**Paṇītena piṇḍapātena** (với vật thực khất thực thượng vị): Trong bài Kinh Anaṅgaṇa trước đó, đồ ăn khất thực có giá trị lớn gọi là vật thực khất thực thượng vị, tuy nhiên trong bài Kinh này muốn nói đến loại thịt chín.

**Agathito** (không bị ràng buộc): không bị mê mẩn bởi tham ái.  
**Amucchito** (không bị mê mẩn): không bị mê đắm do tham ái.  
**Anajjhopanno** (không bị gần gũi): không bị tham chi phối.  
**Ādīnavadassāvī** (có sự nhìn thấy điều bất lợi): nhìn thấy tai họa — vật thực sẽ ấm trên bề mặt dạ dày một đêm rồi thoát ra ngoài qua miệng vết thương.  
**Nissaraṇapañño** (có tuệ về sự buông xả): xác định bằng trí tuệ rằng việc thọ dụng vật thực cũng vì lợi ích này rồi thọ dụng.

### 54. Bốn Phạm trú

Khi ấy, đức Thế Tôn giải thích pháp thoại sâu sắc hơn về mãnh lực của những Phạm trú còn lại (Từ, Bi, Hỷ, Xả) cho lương y Jīvaka.

### 55. Năm nguyên nhân phi công đức

Đức Thế Tôn đóng cửa, thể hiện lòng trắc ẩn đối với chúng sanh. Nếu mọi người nghĩ rằng cúng dường đồ ăn khất thực có hương vị thượng hạng đến một vị Tỳ khưu rồi đạt được sự thành tựu cõi trời đến trăm nghìn đại kiếp, vị ấy cũng có thể tạo nghiệp này hay nghiệp khác, thậm chí khiến người khác làm cho chết rồi cúng dường — vì nguyên nhân đó đức Thế Tôn bác bỏ việc thực hành đó.

**Năm nguyên nhân phi công đức:**
1. Ra lệnh bắt con thú
2. Con thú bị lôi kéo, đau khổ
3. Ra lệnh giết
4. Con thú bị giết, cảm thọ khổ ưu
5. Cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp

**Về thịt phi luật:** Người cho vị Tỳ khưu thọ dụng thịt gấu với tưởng là thịt heo, thịt cọp vằn với tưởng là thịt hươu nai rồi nói lời mỉa mai. Còn những người biết rõ nhưng vì lòng tốt (vật thực khan hiếm hoặc làm thuốc) mà nói khác để cho vị Tỳ khưu thọ dụng, đức Thế Tôn không đề cập đến những người ấy — họ hoàn toàn có được nhiều phước báu.

Lương y Jīvaka là bậc Thánh thinh văn đã chứng đắc Thánh quả, đã thấu hiểu lời dạy của Thế Tôn, đã nhìn thấy rõ Bốn Chân lý, khởi lên lòng tịnh tín và tán thán giáo pháp.

---

*Giải Thích Kinh Jīvaka — Kết Thúc*

---

## Liên kết

- Kinh gốc Pali: Jīvaka Sutta (MN 55)
- Bản dịch Anh: "Jīvaka Sutta: To Jīvaka" — Bhikkhu Bodhi
- Tạng Luật: Mahāvagga, chương y phục (câu chuyện về Jīvaka)
- Chú giải: Samantapāsādikā — Chú giải Tạng Luật
